Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

nh0ckpr0vq@gmail.com


Biển Đông: Đảo nhỏ nhưng là vấn đề lớn

Một cơn bão đã ngấm ngầm hình thành trong nhiều thập kỷ qua tại Biển Đông nhưng không phải là vấn đề thời tiết. Thay vào đó, nó thực chất là một trận cuồng phong xung quanh vấn đề tranh chấp chủ quyền một chuỗi các hòn đảo tại Biển Đông.
Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết như một góc nhìn tham khảo.
Trung Quốc luôn lên tiếng đòi chủ quyền đối với tất cả những hòn đảo đó.
Trong chuyến thăm châu Á tuần này, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã can thiệp vào cuộc tranh cãi mới nhất giữa Trung Quốc và Philippine về những quần đảo gồm nhiều bãi đá và san hô mà phía Philippine gọi là Bãi cạn Scarborough mà Trung Quốc gọi là Hoàng Nham. Trong tháng trước cũng vậy, Trung Quốc đã chăng dây xung quanh hòn đảo có hình móng ngựa này để ngăn chặn ngư dân của Philippine lên đảo. Hòn đảo chỉ nằm cách Philippine 120 dặm về phía Đông.
Tuần này, Nhật Bản tuyên bố đã có một thỏa thuận với người chủ của hòn đảo để mua lại 5 hòn đảo thuộc quần đảo Senkaku và Trung Quốc đã lên tiếng gọi động thái trên là "bất hợp pháp và không có giá trị".

Ảnh minh họa
Robert Kaplan, nhà phân tích chính trị cấp cao của Stratfor và là tác giả của cuốn sách đang gây chú ý gần đây mang tên "Revenge of Geography" tạm dịch là "Kẻ thù về chỉ giới", cho biết tranh chấp của Trung Quốc chủ yếu có nguồn gốc từ vấn đề kinh tế và uy tín quốc gia. Nhà phân tích cho biết "Đây là vấn đề về niềm tin mang tính lịch sử, nó cũng giống như sự thúc đẩy nước Mỹ gây ảnh hưởng trong khu vực lòng chảo Caribê suốt thế kỷ 19 và 20.
Tranh chấp, kiện cáo và Đường lưỡi bò
Trung Quốc đã xem xét kỹ lưỡng những hòn đảo trên và muốn mở rộng sự kiểm soát của mình sang vùng biển gần đó, bắt nguồn từ quyền lợi mang tính lịch sử, nước này đang theo đuổi vai trò thống trị mới tại Đông Á. Đường biển chiến lược với trữ lượng dầu khổng lồ và nguồn khí gas tự nhiên là tiềm năng để giúp ngành công nghiệp năng lượng đang cạn kiệt của Trung Quốc.
Phát biểu tại Indonesia trước khi đến Bắc Kinh, Ngoại trưởng Clinton nhắc lại lập trường của Mỹ: "những hòn đảo đang tranh chấp sẽ đẩy Trung Quốc vào sự xung đột với tất cả các nước láng giềng có chung đường biển, Trung Quốc nên giải quyết vấn đề này với thái độ hợp tác, không gây áp lực, không hăm dọa, đe dọa và không sử dụng vũ lực".
Tuy nhiên, gây áp lực, hăm dọa, đe dọa và sử dụng vũ lực đều là một phần của những tranh chấp đó. Tranh chấp hay kiện cáo đều có thể rất phức tạp... Tất cả những tranh chấp ở Biển Đông đều liên quan đến khu vực được biết đến là đường lưỡi bò. Xa hơn nữa về phía Bắc, Bắc Kinh và Tokyo cũng đang tranh cãi gay gắt về quần đảo Senkaku mà phía Trung Quốc gọi là Điếu Ngư.
Trong 40 năm qua, hải quân Việt Nam và Trung Quốc đã có hai lần xung đột xung quanh việc tranh chấp Trường Sa và Hoàng (của Việt Nam). Tại quần đảo Hoàng Sa (của Việt Nam), Trung Quốc đã thành lập quân đội đồn trú. Tháng trước, một tàu gồm nhiều nhà hoạt động từ Hong Kong đã đến quần đảo Senkaku với ý  định chiếm đóng quần đảo này, tuy nhiên lực lượng bảo vệ biển của Nhật Bản đã phá tan kế hoạch này.
Trong một động thái khiêu khích tương tự, một nhóm nghị sỹ từ Đài Bắc đã đến quần đảo Trường Sa (của Việt Nam) trong tuần này để tham dự diễn tập bắn đạn thật của đội phòng vệ bờ biển Đài Loan.
Sắp xếp lại những bất ổn trong khu vực
Giáo sư John Ciorciari chuyên gia các vấn đề quốc tế của trường Đại học chính sách công Michigan đã nói: "Tôi nghĩ rằng điều làm tình hình tại khu vực Biển Đông trở nên khó ổn định đó là lợi ích chiến lược và kinh tế của Trung Quốc tại Biển Đông quá lớn. Thật vậy, Trung Quốc ước tính trữ lượng dầu thô tại Biển Đông là 213 triệu thùng, tương đương 80% nguồn dầu dự trữ tại Arập Xêút. Nguồn khí đốt tự nhiên trong khu vực này lớn gấp 5 lần nguồn tài nguyên này ở Mỹ.
Tuy nhiên, những lợi ích chiến lược và vai trò chủ nghĩa dân tộc thuần túy đóng vai trò quan trọng ngang nhau trong các vấn đề tranh chấp. Trung Quốc tự cho mình quyền thống trị trong khu vực, cũng như là cách mà Mỹ đã từng giành vai trò thống trị tại khu vực Tây bán cầu,  điều Washington thực hiện theo học thuyết Monroe, lần đầu được Tổng thống James Monroe thông qua năm 1823.
Christopher Johnson, trưởng nhóm nghiên cứu Trung Quốc tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược quốc tế nói rằng: "đứng trên quan điểm của Bắc Kinh, đây là một phần ảnh hưởng tự nhiên của Trung Quốc và đã kéo dài hàng nghìn năm. Giờ đây Trung Quốc muốn sắp xếp lại trật tự và sự cân bằng trong khu vực. Trong đó lợi ích của Trung Quốc được đặt lên trên hết, thất bại dường như không được tính đến. Vì Trung Quốc và các nước láng giềng mong rằng Bắc Kinh sẽ có quan hệ thân thiện hơn với các nước láng giềng trong tương lai, Trung Quốc đang rất sẵn sàng giải quyết vấn đề này khi mà các bên đều giải quyết được các điều khoản một cách hợp lý".
Kaplan, nhà phân tích của Stratfor đồng ý: "Những hòn đảo kể trên đã trở thành tâm điểm của truyền thống vì tất cả các nước có liên quan đều lên kế hoạch triển khai sức mạnh hải quân lần đầu tiên vượt ra ngoài lãnh thổ của mình trên vùng biển".
Trong những năm 1950, 1960 và đầu những năm 1970, Việt Nam, Philippine, Malaysia và Trung Quốc đều gặp vấn đề trong nước, bao gồm các cuộc chiến tranh hoặc lực lượng chống đối hoặc cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc. Điều này chỉ diễn ra trong vòng một thập kỷ tuy nhiên việc củng cố sức mạnh quốc gia là rất cần thiết và các nước nều có kế hoạch phô trương sức mạnh.
Tuy nhiên, Bắc Kinh nghi ngờ vai trò trợ giúp quân sự của Washington đối với các nước trong khu vực có tranh chấp Biển Đông. Mỹ có mối quan hệ quân sự mật thiết với Nhật Bản, Philippine và  Đài Loan. Cường quốc số một thế giới này cũng đã cải thiện quan hệ với Malaysia và Việt Nam.
Trung Quốc cũng nghi ngờ thái độ trung lập của Washington. Tuần trước, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết Bắc Kinh lắng nghe ý kiến của tất cả các bên. Hồng Lỗi cho biết: "Tôi hy vọng Mỹ sẽ giữ lời hứa và thực hiện nhiều hơn để ổn định tình hình trong khu vực và không thể hiện quan diểm đối lập".
Bên cạnh việc giữ thái độ thận trọng đối với tham vọng của Trung Quốc, Mỹ đã thành công trong việc duy trì sự thông thương tại đường biển quốc tế trên Biển Đông, điều mà Trung Quốc đã kiên trì theo đuổi và cam kết thực hiện.
Không ai mong muốn tranh chấp tại những hòn đảo trên bùng nổ thành một cuộc xung đột vũ trang. Thay vào đó, vấn đề này nên được gác sang một bên. Các chuyên gia cũng cho rằng cần phải có thời gian để Trung Quốc cài đặt lại mối quan hệ với các nước láng giềng với hy vọng sẽ tạo ra ít nhất một cơ hội để cùng chia sẻ nguồn tài nguyên trong khu vực thông qua sự đồng thuận của các bên hơn là để Trung Quốc kiểm soát đối với toàn bộ khu vực Biển Đông.
Với các bên liên quan, ngoài vấn đề chủ quyền quốc gia và vấn đề tài nguyên biển, những nước này cũng quan tâm đến quyền lợi về ngư nghiệp.
Theo các chuyên gia nói trên, các bên liên quan nên hành động với một thái độ thiện chí, tốt nhất là gác lại bất đồng và tìm kiếm một thỏa thuận cùng chia sẻ nguồn tài nguyên biển.
Mai Linh (theo NPR)

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2013

Biển Đông là không gian sinh tồn của Việt Nam


Cần hệ thống sử liệu thành cơ sở pháp lý

Sáng 12/12, tại TP.Đà Nẵng, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia HCM, ĐH Khoa học - Xã hội nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội và ĐH Khoa học - Xã hội nhân văn – Đại học Quốc gia TPHCM đã phối hợp tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Hợp tác biển Đông - lịch sử và triển vọng”. Có hơn 100 nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu về biển Đông tham dự. PGS-TS Lê Quốc Lý - Phó GĐ Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia HCM, PGS-TS Trần Ngọc Vương - ĐH Quốc gia Hà Nội... đều nêu rõ, Hoàng Sa, Trường Sa là những địa danh thân thuộc gắn liền với con người Việt Nam hàng ngàn đời nay.

Biển Đông là một phần không tách rời  với đất nước Việt Nam, để lại dấu ấn đậm nét từ thời Phù Nam, Chăm Pa cho đến Đại Việt. Đặc biệt, những công bố nghiên cứu mới nhất của PGS-TS Trần Ngọc Vương còn minh chứng rõ nét văn hóa, lịch sử của đế chế lục địa Trung Quốc qua nhiều thế kỷ. TQ chưa từng là quốc gia biển hoặc có ý chí hướng ra biển trong lịch sử. Đây là nghiên cứu sâu sắc, khoa học và có nhiều chứng cứ, phân tích mới mẻ, gây chú ý tại diễn đàn lần này.

Những biểu hiện tranh chấp và có hành xử gây nguy cơ xảy ra xung đột mang tính thôn tính, bành trướng của Trung Quốc trên biển Đông đã khiến giới khoa học có nhiều đầu tư đặc biệt về nghiên cứu của mình. Mục đích làm rõ, minh chứng trước thế giới biết được chủ quyền biển Đông gắn với các quần đảo - trong đó có Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam từ muôn đời nay. Những công bố này còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ về toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền biển đảo của quốc gia và trách nhiệm của dân tộc, giúp tư vấn cho Nhà nước để có những quyết sách hợp lý trong ứng xử các vấn đề đối nội, đối ngoại liên quan đến vấn đề biển Đông hiện nay.

Ngoài những cơ sở sử liệu giá trị khẳng định chủ quyền biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam đã được hệ thống lại của GS Nguyễn Nhã, tham luận “Thủy binh chúa Nguyễn với việc bảo vệ chủ quyền, khai thác nguồn lợi biển đảo trên biển”; hành trình của đội Hoàng Sa trong việc xác lập và thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của nhà nước Đại Việt thời Nguyễn; cơ sở lịch sử khẳng định quá trình xác lập và thực hiện chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trên huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; tầm nhìn hướng biển của Vua Minh Mệnh... có rất nhiều thông tin, lý luận mới.

Ngoài ra, còn có nhiều bằng chứng lịch sử bằng bản đồ, tài liệu phương Tây khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa được công bố bởi TS Trần Đức Anh Sơn - Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Đà Nẵng. Các nhà khoa học cũng khẳng định sử liệu, chứng cứ nhiều, rõ, song cần hệ thống chặt chẽ thành cơ sở pháp lý thống nhất.

Cần ứng xử tỉnh táo, hợp tác hợp lý

Một phần nghiên cứu quan trọng được các nhà khoa học công bố lần này là lợi ích, mục tiêu của các quốc gia Đông Nam Á, các cường quốc trên thế giới liên quan đến biển Đông, thực trạng và triển vọng các mối quan hệ hợp tác. Trong đó, nghiên cứu về “Lợi ích địa chiến lược của các cường quốc ở biển Đông” của TS Lương Văn Kế (ĐH QG Hà Nội) đã phân tích tương đối rõ 5 lợi ích về kinh tế, an ninh, lãnh thổ, tài nguyên và hệ giá trị của các cường quốc Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Nga và Trung Quốc.

Từ đó có thống kê, so sách và phân tích xu hướng hành xử tương ứng với lợi ích của từng cường quốc đó trên biển Đông trong tương lai. Phân tích này còn chỉ rõ cho các nước nhỏ, mới phát triển và đang có tranh chấp ở Đông Nam Á với Trung Quốc có cách hành xử, hợp tác hợp lý với các quốc gia, cường quốc trên thế giới để bảo tồn “không gian sinh tồn” của mình gắn với biển Đông hiện nay và trong tương lai.

GIẢI QUYẾT ĐA PHƯƠNG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Trong bối cảnh tình hình Biển Đông đang diễn biến hết sức phức tạp, tranh chấp Biển Đông chỉ có thể giải quyết bằng đàm phán đa phương. Ngoại trừ Trung Quốc luôn phản đối giải quyết đa phương vấn đề Biển Đông thì hầu hết các nước đều cho rằng giải pháp đa phương cho vấn đề Biển Đông là lựa chọn tối ưu nhất hiện nay.
Biển Đông là khu vực đan xen lợi ích của nhiều nước, nhiều bên, do vậy tranh chấp ở Biển Đông luôn diễn biến phức tạp. Tại đây, vấn đề phân định vùng biển chồng lấn giữa 2 nước với nhau là liên quan đến đàm phám song phương, còn lại hầu hết các vấn đề ở Biển Đông liên quan đến nhiều quốc gia trong khu vực, như tranh chấp đối với Trường Sa liên quan trực tiếp đến Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Brunei và Đài Loan. Giải pháp cho vấn đề Biển Đông liên quan trực tiếp đến hòa bình, ổn định khu vực và thương mại hàng hải của nhiều quốc gia có liên quan như Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Úc, EU… vì đây là tuyến hàng hải nhộn nhịp thứ 2 trên thế giới, nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương. Biển Đông cũng là nơi diễn ra các hoạt động của Hạm đội 7, Hoa Kỳ, chính vì điều đó, Mỹ đã nhiều lần khẳng định “có lợi ích quốc gia” tại vùng biển sôi động này. Ấn Độ, Nhật Bản và nhiều nước khác đều khẳng định có lợi ích lớn trong việc bảo đảm tự do, an ninh, an toàn hàng hải tại Biển Đông.
Như vậy có thể nhận thấy rằng, vấn đề Biển Đông không chỉ tồn tại tranh chấp quyền lợi song phương giữa hai nước mà còn liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau, chúng ta cùng tìm hiểu xem: vì sao cần giải quyết đa phương vấn đề Biển Đông?
Thứ nhất, Biển Đông liên quan đến lợi ích của nhiều nước, nhiều bên và cả các nước trong và ngoài khu vực như đã nêu ở trên, chỉ có giải pháp đa phương với sự tham gia của tất cả các nước có lợi ích thì mới là giải pháp công bằng và mới có thể là giải pháp lâu dài được các bên chấp nhận.
Thứ hai, với những hành động lấn lướt của Trung Quốc ở Biển Đông thời gian gần đây, thì việc dùng cơ chế đa phương mới có thể kiềm chế những hành động này của Trung Quốc. Các nước trong khu vực đều là nước nhỏ, không thể đơn phương chống chọi lại được với Trung Quốc mà cần có sự hỗ trợ của các cường quốc có uy tín như Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Nga. Trung Quốc luôn phản đối việc giải quyết đa phương các tranh chấp tại các diễn đàn khu vực, mà luôn đòi hỏi việc giải quyết với từng quốc gia về các vấn đề này. Các nước cần hết sức tỉnh táo để không rơi vào cái bẫy “giải quyết song phương” của Trung Quốc. Trung Quốc hiểu rằng, trong đàm phán song phương, Trung Quốc có thể dùng sức mạnh nước lớn của mình để gây sức ép đòi đối phương chấp nhận phương án của mình. Thủ thuật đàm phán của Trung Quốc cũng hết sức tinh vi, Trung Quốc dùng mọi thủ đoạn từ gây áp lực đến đe dọa trong đàm phán song phương để đạt mục tiêu có được giải pháp có lợi cho Trung Quốc. Nếu trong đàm phán đa phương thì các thủ thuật của Trung Quốc sẽ bị các bên lật tẩy và Trung Quốc cũng không thể dùng thế nước lớn của mình để bắt nạt cả một tập thể các nước có liên quan. Hơn nữa, nếu có sự tham gia của các nước lớn như Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Nga thì Trung Quốc cũng phải dè chừng.
Trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng đẩy mạnh các hoạt động gây hấn ở Biển Đông, thì giải pháp đa phương trong đàm phán cho các tranh chấp ở Biển Đông càng trở nên cần thiết. Việc đấu tranh với yêu sách phi lý “đường lưỡi bò” của Trung Quốc hoặc đấu tranh với việc Trung Quốc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”, bao trùm lên 3 quần đảo “Tây Sa” (Hoàng Sa), “Nam Sa” (Trường Sa) và “Trung Sa” với diện tích vùng biển 2 triệu km2 cũng như việc Trung Quốc quân sự hóa “thành phố Tam Sa” không thể để 1- 2 nước phản kháng một cách rời rạc và đơn lẻ, hơn lúc nào hết việc đoàn kết, đấu tranh của các quốc gia trong khu vực, sự lên tiếng của cả cộng đồng quốc tế đang trở nên cấp thiết và cụ thể. Việc Thượng viện Mỹ đã phê chuẩn một nghị quyết “mạnh mẽ kêu gọi” tất cả các nước trong khu vực “hãy kiềm chế” và đừng cho dân cư trú lâu dài tại các nơi ở Biển Đông cho đến khi đạt được một bộ quy tắc ứng xử, được sự bảo trợ của các nghị sỹ của cả hai Đảng Dân chủ và Cộng hòa. Theo đó, Hoa Kỳ cam kết “giúp đỡ các quốc gia Đông Nam Á trở nên luôn mạnh mẽ và độc lập”. Hành động này cho thấy Mỹ đã thực sự vào cuộc một cách thực tế trong việc giải quyết các tranh chấp tại Biển Đông.
Ba là các nước đều đồng tình với việc giải quyết đa phương vấn đề Biển Đông. Tổng thống Philippin nhiều lần kêu gọi giải pháp đa phương cho vấn đề Biển Đông. Mới đây, Văn phòng Tổng thống Philippin tuyên bố, nước này sẽ tiếp tục thúc đẩy một giải pháp đa phương cho vấn đề tranh chấp lãnh thổ trong khu vực trước ASEAN và những diễn đàn quốc tế khác. Thủ tướng Malaysia cũng bày tỏ ủng hộ cho một giải pháp đa phương cho các tranh chấp ở Biển Đông. Tại Hội nghị ARF 19 và Hội nghị ngoại trưởng Đông Á (EAS), Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng kêu gọi giải quyết tranh chấp ở Biển Đông bằng con đường đa phương. Bà nhấn mạnh “Các vấn đề như tự do hàng hải, khai thác hợp pháp các tài nguyên hàng hải thường liên quan tới một khu vực rộng lớn, và cách tiếp cận song phương có thể dẫn tới sai lầm hay thậm chí đối đầu”. Các nước Ấn Độ, Nhật và cả EU đều ủng hộ cho việc giải quyết hoà bình tranh chấp ở Biển Đông theo hướng đa phương trên cơ sở luật pháp quốc tế nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982. Các chuyên gia, học giả trên thế giới cũng đều cho rằng cần một giải pháp đa phương cho các tranh chấp ở Biển Đông.
Bốn là, từ năm 2010 sau khi vấn đề Biển Đông được trao đổi nhiều tại các hội nghị ASEAN và Hội nghị ARF 17 tại Hà Nội, đồng thời với những diễn biến phức tạp ở Biển Đông thời gian qua, vấn đề Biển Đông trở thành mối quan tâm chung của cả cộng đồng quốc tế và trở thành chủ đề được thảo luận một cách rộng rãi tại các diễn đàn quốc tế và khu vực. Tại AMM 45 và ARF 19 ở PhnomPenh, mặc dù Campuchia chịu sức ép của Trung Quốc muốn gạt vấn đề Biển Đông ra khỏi chương trình nghị sự của các cuộc họp, song vấn đề Biển Đông vẫn được các nước nêu ra một cách mạnh mẽ. Như vậy, bản thân vấn đề Biển Đông đã trở thành một vấn đề mang tính đa phương.
Năm là, bản thân Trung Quốc đã ký kết một văn bản thừa nhận việc giải quyết đa phương vấn đề Biển Đông. Tháng 10/2011, Việt Nam và Trung Quốc ký kết Thoả thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển. Trong Điều 3 Thoả thuận hai bên đã nhất trí một nội dung là “đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam - Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Nếu tranh chấp liên quan đến các nước khác, thì sẽ hiệp thương với các bên tranh chấp khác”. Điều này có nghĩa là Trung Quốc đã chấp nhận việc giải quyết đa phương vấn đề Biển Đông. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc ký kết một văn bản chính thức trong đó cam kết những vấn đề liên quan đến các nước khác thì phải trao đổi với các bên liên quan. Nội dung này của thỏa thuận đã mở ra khả năng về giải quyết đa phương tranh chấp ở Biển Đông.
Tóm lại, trong bối cảnh Trung Quốc đang thi hành một chính sách “cá lớn nuốt cá bé” trong vấn đề Biển Đông, dùng sức mạnh để gây áp lực, o ép các nước ven Biển Đông thì chỉ có một giải pháp đa phương cho vấn đề Biển Đông mới có thể phản ánh được lợi ích của tất cả các bên liên quan và góp phần duy trì hoà bình, ổn định, bảo đảm an ninh an toàn hàng hải ở Biển Đông. Điều này phù hợp với quan điểm chung của các nước trong và ngoài khu vực, phù hợp với thực tế tranh chấp ở Biển Đông và phù hợp với xu thế giải quyết các tranh chấp liên quan đến nhiều bên trong quan hệ quốc tế hiện đại. Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam - Trung Quốc đã đặt viên gạch đầu tiên cho việc giải quyết đa phương vấn đề Biển Đông. Hy vọng Chính phủ Việt Nam tiếp tục nỗ lực cùng các bên liên quan thúc đẩy cho một giải pháp đa phương cho vấn đề Biển Đông, trong đó các nước lớn Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Nga… như là nhân tố để kiềm chế Trung Quốc./.